Skip Ribbon Commands
Skip to main content



Thứ ba, ngày 19 tháng 12 năm 2017
Chọn ngôn ngữ     English Khmer Laos Vietnamese
Date 27/05/2016-11:24:00 AM
XÂY DỰNG QUY CHẾ CHUNG VỀ CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN ĐẾN KHU VỰC TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VÀ PHỐI HỢP GIỮA CÁC TỈNH TRONG KHU VỰC

1. Giải pháp tạo nguồn vốn đầu tư

Đặc điểm nổi bật của vùng Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam là sự thiếu hụt về kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và thương mại.

Tỷ lệ dân số trong Vùng sống bằng nông nghiệp cao, nhiều nơi vẫn còn giữ phương thức sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất hàng hoá chưa phát triển, do vậy nguồn vốn trong dân không đáng kể. Các doanh nghiệp tư nhân hạn chế về số lượng, chủ yếu ở qui mô vừa và nhỏ.

Trong Tam giác phát triển, các dự án nước ngoài (ODA và FDI) hạn chế về số lượng và qui mô do nhiều nguyên nhân; ODA chủ yếu cho xoá đói giảm nghèo và một số hoạt động về môi trường; FDI chưa có môi trường thu hút hấp dẫn.

Thực tế trên cho thấy, giải pháp vốn đầu tư rất quan trọng, quyết định sự hình thành và và phát triển nhanh hay chậm của Tam giác phát triển.Trước mắt cần:

- Huy động nhiều nguồn vốn tập trung đầu tư hỗ trợ chủ yếu vào các lĩnh vực hạ tầng then chốt trong phát triển kinh tế là giao thông, thủy lợi, điện... Lồng ghép các chương trình, dự án trên từng địa bàn để quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn.

- Tăng thêm nguồn vốn cho chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn, nhất là các hộ nghèo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn để phát triển sản xuất.

- Khuyến khích các thành phần kinh tế thực hiện ký kết hợp đồng với nông dân về tiêu thụ sản phẩm và làm dịch vụ vốn, vật tư phục vụ sản xuất, xây dựng phương thức thống nhất về tổ chức từ sản xuất nguyên liệu - chế biến - tiêu thụ trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá trong cơ chế thị trường.

- Khuyến khích các hình thức huy động nguồn vốn trong dân, vốn từ các doanh nghiệp để đầu tư tăng năng lực sản xuất, đầu tư phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và tổ hợp tác, trang trại và quy mô hộ gia đình.

- Nguồn vốn đóng góp của ba nước:

Đối với sự hoạt động khởi đầu của Tam giác phát triển nguồn vốn đóng góp của Chính phủ ba nước là rất quan trọng, đặc biệt cho việc nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tê-xã hội. Đến nay giữa Việt Nam và Lào đã có sự hợp tác xây dựng quốc lộ 18B nối thủ phủ của Attapư (Lào) tới biên giới Việt-Lào, nối tiếp với quốc lộ 40 của Việt Nam; giữa Việt Nam và Cămpuchia cũng đang triển khai các hoạt động tiến tới việc nâng cấp quốc lộ 78 nối thủ phủ của Rattanakiri tới biên giới Việt Nam-Cămpuchia. Đây là những công việc quan trọng nhất, tạo những tuyến giao thông huyết mạch nối các địa phương theo hướng Đông-Tây. Trong quá trình phát triển tiếp theo, nhiều công trình kết cấu hạ tầng khác cần thiết hợp tác phát triển, song phương hoặc đa phương, dựa trên nhu cầu của các bên. Tuy nhiên do khả năng về nguồn vốn từ ngân sách của cả ba nước có hạn, việc đầu tư các công trình lớn sẽ được cân nhắc. Khi kết cấu hạ tầng tạm đủ để các hoạt động sản xuất kinh doanh triển khai có lãi, thông qua việc thu các thuế và phí để tạo nguồn tiếp tục nâng cấp kết cấu hạ tầng. Bên cạnh việc đầu tư hạ tầng phục vụ mục tiêu hợp tác, bản thân các tỉnh trong Tam giác phát triển cũng đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng trong tỉnh mình phục vụ sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, những hình thức đầu tư như vậy vừa phục vụ mục đích riêng của từng nước, vừa phục vụ mục tiêu hợp tác chung giữa các tỉnh trong Vùng.

- Huy động nguồn vốn ODA: Cả ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam là đối tượng đang tiếp nhận nguồn hỗ trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc tế và các nhà tại trợ lớn cho phát triển và xoá đói giảm nghèo. Vùng Tam giác phát triển là một trong những địa bàn ưu tiên cho các dự án xoá đói giảm nghèo của cả ba nước.

Nhìn chung đối với khu vực các nước ASEAN, Ngân hàng Châu á (ADB) là tổ chức tài chính quan tâm đến việc hình thành các Tam giác phát triển, cho các nước vay vốn hỗ trợ cả phần mềm (nghiên cứu qui hoạch, nghiên cứu tiền khả thi...) lẫn phần cứng (xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật...) trong các Tam giác phát triển. Trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS), các dự án của ADB cũng được triển khai theo các trục hành lang, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng và xoá đói giảm nghèo. Đối chiếu với hai tiêu chí trên của ADB, Tam giác phát triển Cămpuchia - Lào - Việt Namcó lợi thế được ưu tiên tiếp nhận các dự án bởi trên lãnh thổ các tỉnh trong Tam giác có hai trục hành lang theo hướng “Đông-Tây” sẽ được hình thành. Trong thời gian gần đây, Nhật Bản cũng hứa dành 1,5 tỷ USD cho đầu tư hạ tầng các nước trong Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS). Khu vực Tam giác phát triển ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia nằm trong vùng được xem xét sử dụng nguồn vốn này.

Bên cạnh ADB, một số tổ chức quốc tế khác cũng rất quan tâm hỗ trợ Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia. Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) cũng rất quan tâm muốn đưa dự án phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng nông thôn vào thử nghiệm trong Tam giác phát triển. Nắm bắt những thông tin về các nhà tài trợ, cung cấp cho các tỉnh trong Tam giác phát triển, hỗ trợ các tỉnh này xây dựng các dự án kêu gọi vốn đầu tư sẽ giúp các tỉnh này vượt qua những khó khăn ban đầu về tạo tiền đề cho hợp tác phát triển.

- Huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài và nguồn vốn của khu vực doanh nghiệp trong nước: Đối với Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, các doanh nghiệp mới được hình thành, chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn không nhiều, lĩnh vực hoạt động hạn chế ở những ngành chế biến nông lâm sản là chủ yếu. Giữa các doanh nghiệp của ba nước bước đầu đã có sự hợp tác trong một số ngành như sản xuất đồ gỗ dân dụng, nuôi ong, buôn bán trao đổi hàng tiêu dùng..., tuy nhiên qui mô còn rất nhỏ do nhu cầu dân cư chưa cao và những rào cản về kết cấu hạ tầng, lao động, cơ chế ưu đãi.

Như vậy muốn duy trì và phát triển các quan hệ làm ăn của khối doanh nghiệp, phải tạo điều kiện và cơ chế chính sách (sẽ được đề cập kỹ ở mục tiếp theo) để các nhà đầu tư yên tâm kinh doanh và có lãi; xoá bỏ các rào cản bất hợp lý. Tạo các quan hệ làm ăn giữa các doanh nghiệp lúc bắt đầu có thể ở qui mô rất nhỏ, như buôn bán trao đổi dọc đường biên, chợ biên giới... Những hoạt động khởi đầu này tạo điều kiện hợp tác giữa các doanh nghiệp ở qui mô lớn hơn khi điều kiện về hạ tầng (cứng và mềm) được hoàn thiện.

Trong điều kiện hiện nay, vai trò của các tổng công ty lớn của Việt Nam (như TCT Cà phê, Cao su, Điện lực...) rất quan trọng trong việc tạo động lực phát triển cho Vùng Tam giác biên giới ba nước.

Trong thời gian trước mắt Tam giác phát triển chưa phải là địa bàn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài do ở đây chưa hội tụ được những môi trường cần thiết. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, một số doanh nhân (đặc biệt từ Thái Lan) đã theo trục đường 18 của Lào, tới khảo sát cửa khẩu Bờ Y và các tuyến đường ra cảng biển của Việt Nam; qua đó cho thấy khi các tuyến đường trục trong Tam giác phát hoàn thành, phải tính đến sự tham gia nhiều hơn các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên một số lĩnh vực như thương mại, du lịch...

2. Cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt

Giữa Việt Nam và Lào, giữa Campuchia và Việt Nam đã có những thoả thuận về cơ chế, chính sách hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực, những cơ chế chính sách này ngày càng được hoàn thiện trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của các bên, tiến tới hội nhập khu vực. Thông qua các cuộc gặp cấp chuyên viên của ba nước và cuộc gặp cấp tỉnh cho thấy nhiều vấn đề về cơ chế, chính sách đã thống nhất ở cấp trung ương song khi thực hiện vẫn gặp khó khăn ở các địa phương do thông tin không kịp thời, do nhiều cách hiểu khác nhau giữa trung ương và địa phương, do sơ suất về phân cấp.

Từ mục tiêu xây dựng Tam giác phát triển có thể thấy, hình thức hợp tác này có thể coi như bước đầu tiên thử nghiệm cho hợp tác rộng rãi, cho hội nhập khu vực, do vậy những vấn đề đã được thoả thuận song phương giữa các nước vẫn được thực hiện ở đây, song cần bổ những cơ chế chính sách có sự thoả thuận của ba bên với độ ưu tiên cao hơn.

(1)- Ở cấp Trung ương

- Phối hợp kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng của ba nước để hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động kinh tế then chốt trong Tam giác phát triển. áp dụng những điểm ưu đãi nhất của luật về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài của mỗi nước. Có cơ chế khuyến khích nhất để kêu gọi đầu tư cho các công trình lớn, then chốt: như xây dựng đường giao thông và các công trình hạ tầng khác cho khu vực này,…

- Tạo điều kiện thuận lợi cho dòng lưu chuyển qua biên giới của hàng hoá, con người và vốn đầu tư trong phạm vi Tam giác phát triển thông qua việc phối kết hợp chặt chẽ giữa thủ tục hải quan và nhập cảnh. áp dụng cơ chế thuận lợi nhất cho người qua lại và cư trú của tất cả các địa phương trong Tam giác phát triển, cho phép người lao động được cư trú theo chương trình và thời hạn của các dự án đầu tư; tạo điều kiện để sử dụng lao động qua ngày ở những khu kinh tế cửa khẩu. Công dân thuộc các tỉnh trong Tam giác phát triển qua lại kinh doanh, du lịch ... được sử dụng giấy thông hành chung cho Tam giác phát triển. Tạo điều kiện thuận lợi cho khách nước ngoài xin VISA tại các cửa khẩu trong Tam giác phát triển thay vì phải tới tận thủ phủ của các tỉnh hay một trung tâm để giải quyết.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại: xem xét cách tiếp cận để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của các thủ tục thương mại, các loại giấy tờ được hài hoà, một hệ thống phân loại hàng hoá nhất quán; xem xét lộ trình cắt giảm giảm thuế, phá bỏ hàng rào phi thuế quan, thực hiện sớm các quy định của AFTA tại khu vực Tam giác phát triển; tiến tới thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu đối với nông sản. Đối với các khu kinh tế cửa khẩu xem xét việc hình thành các khu công nghiệp tạm nhập-chế biến-tái xuất nhằm tận dụng lợi thế về lao động, vùng nguyên liệu, thuế suất ưu tiên hàng xuất khẩu cho những nước nghèo của WTO.

- Ba Chính phủ có cơ chế, chính sách tài chính (ưu tiên cao nhất về thuế, hỗ trợ vốn, ưu đãi tín dụng…) để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Có chính sách tín dụng ưu đãi đặc biệt đối với các nhà đầu tư làm ăn tại Tam giác phát triển.

(2)- Đối với các địa phương

- Phát triển các hợp tác thương mại mậu biên: Một trong những lợi thế của Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Namlà hai tuyến hành lang Đông Tây sẽ hình thành và chạy xuyên qua ra các cảng biển của Việt Nam. Như vậy xu thế chung các cửa khẩu quốc gia giữa Cămpuchia và Việt Nam có nhiều khả năng được nâng cấp thành các cửa khẩu quốc tế. Việc hình thành các cặp cửa khẩu biên giới sẽ tác động trước tiên đến các thương mại vùng biên. Do vậy các địa phương cần phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác phát triển thương mại biên mậu giữa các tỉnh của khu vực Tam giác.

- Phối hợp lợi thế so sánh phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Trong Tam giác phát triển, tuy các doanh nghiệp của địa phương có qui mô nhỏ, song qua một số năm hoạt động các doanh nghiệp này cũng đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư và tìm kiếm đối tác. Việc phân bố lao động trong các tỉnh cho thấy khả năng bù trừ sự khan hiếm về lao động có tay nghề từ các tỉnh của Việt Nam cho các tỉnh của hai nước bạn. Hiện nay đã có một số doanh nghiệp Việt Nam đã triển khai hợp tác ở các tỉnh của Campuchia và Lào, do vậy các địa phương cần khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác đầu tư sản xuất, kinh doanh và chuyển giao công nghệ. Giai đoạn đầu có thể xúc tiến công nghiệp dọc đường biên, ở các khu kinh tế cửa khẩu, tận dụng lợi thế về kết cấu hạ tầng của các tỉnh Việt Nam. Chú trọng hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong Tam giác phát triển thông qua các chương trình đào tạo, marketing thị trường xuất khẩu.

- Phối hợp đào tạo nguồn nhân lực: Từ các nguồn kinh phí của các tổ chức quốc tế, kinh phí xoá đói giảm nghèo, kinh phí hỗ trợ của các Phân ban Lào – Việt Nam, Campuchia – Việt Nam... xây dựng dựng các chương trình phát triển nguồn nhân lực xuyên biên giới dành cho nông dân, giáo viên, cán bộ y tế, doanh nhân, cán bộ quản lý nhằm nâng cao năng lực, hiểu biết về kỹ thuật và ngoại ngữ...

- Giải pháp phối hợp khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường: Tam giác phát triển là đầu nguồn của nhiều con sông, là nơi có tỷ lệ che phủ của rừng lớn. Hiện nay cả ba nước đã có chính sách bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn. Việc bảo vệ rừng chỉ có thể thực hiện được tốt nếu có sự đóng góp của các địa phương trong Vùng Tam giác phát triển, do vậy giữa các địa phương cần có các biện pháp phối hợp ngăn chặn nạn phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ bừa bãi. Trong điều kiện nhiều tổ chức quốc tế rất quan tâm tài trợ cho các dự án về môi trường, các địa phương cần chủ động trong việc xây dựng các dự án chung, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn các khu vườn quốc gia trong Tam giác phát triển.

- Chủ động, năng động trong hợp tác phát triển: Tiến độ thực hiện bản qui hoạch phụ thuộc nhiều vào việc phân cấp giữa trung ương và địa phương của các nước và sự chủ động, năng động của các địa phương. Các địa phương cần tận dụng mối quan hệ láng giềng đã có đề ra nội dung hợp tác. Thông qua hoạt động hợp tác sẽ nẩy sinh các vướng mắc về các vấn đề cơ chế, chính sách mà chỉ cấp trung ương mới giải quyết được, khi đó chủ động trao đổi với nhóm Công tác hoặc đề đạt lên các cấp có thẩm quyền xem xét. Các đề đạt giải quyết các vấn đề cụ thể trong hợp tác song phải hướng tới xu thế hội nhập.

3. Tăng cường công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật

Hướng phát triển nông lâm nghiệp trọng tâm của khu vực là đảm bảo ổn định sản xuất lương thực và chuyển hướng mạnh mẽ sang sản xuất sản phẩm hàng hoá. Do vậy để tăng nhanh sản lượng lương thực đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao khối lượng, chất lượng sản phẩm hàng hoá cho công nghiệp chế biến xuất khẩu đủ sức cạnh tranh trên thị trường, công tác nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng đầu tiên là cải tiến khâu giống. Các cơ sở nghiên cứu ở Trung ương và các tỉnh cần tập trung đầu tư cho các dự án phát triển về giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, phẩm chất tốt. Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, xây dựng mô hình trình diễn để hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, nhất là đối với đồng bào vùng sâu vùng xa.

4. Giải pháp thị trường

Trong khu vực đã có một số mặt hàng nông lâm sản chủ lực xuất khẩu như cà phê, cao su, gỗ... (nhất là vùng Tây Nguyên). Do đó ngoài việc mở rộng thị trường xuất khẩu cần chú ý đến thị trường của mỗi quốc gia để tranh thủ trao đổi sản phẩm nhằm làm phong phú hàng hoá trên thị trường đáp ứng tiêu dùng cho nhân dân. Trong giai đoạn đầu khi các cơ sở chế biến vùng Tây Nguyên chưa đủ nguyên liệu (điều, cao su, bột giấy, gỗ, lâm sản...), đây là thị trường tiềm năng có thể hỗ trợ thu mua nguyên liệu cho các tỉnh Nam Campuchia và Lào.

Các tỉnh trong khu vực cần xúc tiến mở rộng quan hệ trao đổi hàng hoá với các trung tâm kinh tế của mỗi nước và giữa các tỉnh trong khu vực với nhau. Từng bước xúc tiến nghiên cứu phát triển thị trường ổn định, cung cấp đầy đủ kịp thời thông tin thị trường để nông dân ổn định sản xuất và nâng cao thu nhập. Mặt khác triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến công tác tiếp cận thị trường để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.

5. Giải pháp về định canh định cư

Trong những năm gần đây, các tỉnh trong khu vực đã triển khai công tác định canh định cư nhằm ổn định cuộc sống cho đồng bào các dân tộc, hạn chế phá rừng bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên tình trạng du canh du cư và định cư du canh vẫn còn diễn ra chưa chấm dứt được, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy cần có những giải pháp hữu hiệu để hoàn thành công tác định canh định cư, ổn định và nâng cao đời sống cho nhân dân./.

Source: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

REVIEW

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  

Trang thông tin điện tử Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: số 6B Hoàng Diệu, quận Ba Đình, Hà Nội • Điện thoại: 08043485; (Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ 024.38455298) ; Fax: 08044802; (Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ 024.38234453 )Email: banbientap@mpi.gov.vn